CÔNG TÁC ĐẤT

Công tác đất là nền tảng quyết định trực tiếp đến chất lượng phần kết cấu và sự ổn định lâu dài của toàn bộ dự án. Đối với đơn vị thi công trực tiếp, việc tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp kỹ thuật trong quá trình đào, đắp sẽ hạn chế tối đa rủi ro sụt lún, sai lệch kết cấu và đảm bảo an toàn tại công trường.
Công tác chuẩn bị và đào hố móng (Excavation)
-
Bảo vệ đất nền nguyên thủy: Khi sử dụng cơ giới, bắt buộc phải chừa lại lớp đất cuối cùng (dày khoảng 15–20cm) để đào và sửa phẳng bằng thủ công. Tuyệt đối không đào vượt quá chiều sâu thiết kế làm phá vỡ cấu trúc và giảm cường độ chịu tải của đất nền tự nhiên.
-
Gia cố và vát mái taluy: Tuỳ thuộc vào đặc tính địa chất và độ sâu hố móng, phải tính toán góc vát taluy an toàn. Nếu mặt bằng thi công chật hẹp, bắt buộc phải thi công hệ giằng chống, ép cừ (cừ larsen) trước khi đào để ngăn chặn sạt lở.
-
Kiểm soát nước và thời tiết: Kết hợp chặt chẽ với công tác hạ mực nước ngầm và hệ thống rãnh thu nước mặt. Luôn chuẩn bị sẵn bạt che chắn và máy bơm công suất lớn để ứng phó với các trận mưa lớn bất ngờ, tránh tình trạng xói lở thành vách.
-
Quản lý tải trọng mép hố: Không tập kết vật tư, thiết bị nặng hoặc đổ đất bóc tầng phủ quá gần mép hố đào. Áp lực phụ thêm này có thể gây trượt lở vách đất ngay cả khi đã vát mái.
Công tác san lấp và đầm chặt (Backfilling & Compaction)
-
Nghiệm thu vật liệu đầu vào: Đất hoặc cát dùng để san lấp phải đúng tiêu chuẩn. Bắt buộc loại bỏ hoàn toàn các tạp chất hữu cơ, rễ cây, bùn lầy hay xà bần lẫn lộn, vì chúng sẽ phân hủy theo thời gian tạo ra các lỗ rỗng gây lún sụt mặt nền.
-
Thi công đầm theo lớp: Phải san rải vật liệu thành từng lớp mỏng (thường từ 15cm đến 25cm tùy loại thiết bị lu lèn) và đầm chặt. Cấm tuyệt đối việc đổ lớp quá dày rồi mới đầm, vì lực đầm sẽ không tác dụng được tới lớp dưới cùng.
-
Kiểm soát độ ẩm: Vật liệu đắp phải đạt độ ẩm tối ưu. Nếu đất quá khô cần tưới thêm nước đẫm đều, nếu quá ướt phải phơi ráo mới tiến hành lu lèn để tránh hiện tượng đầm cao su.
-
Thí nghiệm hệ số K (Độ chặt): Hoàn thành đầm lớp nào phải tiến hành lấy mẫu thí nghiệm hiện trường kiểm tra hệ số đầm chặt (ví dụ K=0.95 hoặc K=0.98) lớp đó. Chỉ khi đạt tiêu chuẩn mới cho phép nghiệm thu chuyển bước thi công lớp tiếp theo.